Mùa khô ở Quy Nhơn kéo dài tháng 1 đến tháng 8. Đây là quãng phân định đàn nào thật sự khoẻ.
Điều đàn cần trong mùa này khác hẳn mùa mưa, và phần lớn là những thứ mình không làm chứ không phải làm thêm.
Thứ nhất là dự trữ. Đây là thứ quyết định, mà nó phụ thuộc vào việc mình đã chừa lại bao nhiêu khi thu mật. Không làm gì được trong mùa khô để bù.
Thứ hai là bóng mát buổi chiều. Ở Quy Nhơn nắng chiều mùa khô rất gắt, thùng phơi nguyên buổi thì đàn phải dồn quân quạt thay vì đi kiếm ăn.
Thứ ba là được yên. Mỗi lần mở thùng trong mùa này tốn của đàn nhiều hơn bình thường.
Thứ tư là chống kiến. Nguồn ăn ngoài tự nhiên cạn nên kiến tìm tới tổ ong nhiều hơn.
Cùng một việc nhưng mùa mưa làm được, mùa khô thì không.
| Việc | Mùa mưa tháng 9 đến tháng 12 | Mùa khô tháng 1 đến tháng 8 |
|---|---|---|
| Mở thùng kiểm tra | Được, khoảng một lần mỗi tháng | Hạn chế tối đa |
| Tách đàn | Nên làm | Không |
| Thu mật | Cuối mùa | Không |
| Chống kiến | Kiểm định kỳ | Kiểm kỹ hơn, hằng tuần |
| Che nắng | Ít cần | Rất cần buổi chiều |
| Cho ăn bổ sung | Không cần | Chỉ khi đàn đã kiệt |
Lượt ong ra vào giảm dần dù trời nắng đẹp. Đây là dấu hiệu sớm nhất.
Ong về ít mang phấn. Đứng nhìn năm phút không thấy con nào chân dính phấn thì nguồn ăn đã cạn.
Nặng hơn thì ong thợ kéo ấu trùng ra ngoài. Đàn tự cắt bớt miệng ăn để sống sót. Thấy cảnh này là phải can thiệp.
Ở Quy Nhơn còn một dấu hiệu riêng: mùa khô kéo dài tới tám tháng nên quãng thiếu hoa dài hơn hẳn các vùng khác, nên nếu thấy thêm biểu hiện đó thì tình hình nặng hơn mức bình thường.
Chỉ cho ăn khi đã có dấu hiệu đói rõ, không cho ăn phòng xa.
Cho ít và đều, đặt nơi chỉ đàn mình tới được. Cho nhiều một lúc dễ sinh cướp mật giữa các tổ, lúc đó rối hơn là đói.
Ngưng ngay khi thấy ong bắt đầu mang phấn về lại.
Nếu năm nào cũng phải cho ăn thì vấn đề nằm ở nguồn hoa quanh nhà chứ không ở đàn. Phải trồng bổ sung chứ đừng nuôi bằng cách cho ăn.
Mùa khô không phải lúc để xoay xở. Mọi thứ quyết định từ cuối mùa mưa.
Thu mật chừa lại đủ. Đây là điều quan trọng nhất và cũng hay bị bỏ qua nhất.
Không tách đàn sát mùa khô, để tổ con không phải vào quãng khó với tay trắng.
Trồng vài vạt hoa chịu hạn quanh khu đặt tổ từ đầu mùa mưa. Ở Quy Nhơn thì đặt tổ nơi khuất gió, có tán che, ưu tiên khu vườn nhà thay vì đồi trống, nên bố trí sao cho hợp với cách đó.
Đàn khoẻ và đủ dự trữ thì không, chỉ chững lại. Đàn mới tách hoặc bị thu cạn mới có nguy cơ thật.
Không. Ong cần nắng sáng để khởi động. Che phần chiều là đủ.
Không nên. Phần mật trong tổ là vốn cầm cự, lấy đi là đẩy đàn vào rủi ro.
Khoảng một tháng sau những trận mưa đầu mùa, khi hoa dại bắt đầu nở lại.
Khoảng tháng 1 đến tháng 8, trong đó nặng nhất là tháng 5 đến tháng 8.
Đặc điểm khí hậu Quy Nhơn: nắng nhiều, gió biển quanh năm, mùa mưa ngắn và dồn vào cuối năm. Những gì người nuôi ong dú ở đây cần biết để đàn không su
Tháng nào nên tách đàn, tháng nào thu mật, tháng nào chỉ nên để yên cho đàn. Lịch cả năm dành cho người nuôi ong dú tại Quy Nhơn.
Mùa mưa Quy Nhơn vừa là cơ hội vừa là rủi ro. Danh sách việc cần làm trước khi mưa lớn, để đàn tận dụng được mùa hoa mà không mất tổ vì đổ hay ẩm.
Ong dú chịu được khoảng nhiệt nào và độ ẩm bao nhiêu là quá cao. Đối chiếu với điều kiện thực tế ở Quy Nhơn để biết khi nào thật sự cần can thiệp.
Mưa lớn, gió mạnh, nắng hạn kéo dài đều có thể làm mất đàn trong một đêm. Cách phòng trước và xử lý sau ở điều kiện Quy Nhơn.
Câu trả lời thẳng thắn cho người đang cân nhắc nuôi ong dú tại Quy Nhơn, gồm cả những mặt bất lợi mà người bán tổ thường ít nói tới.
Nuôi ong dú tại Quy Nhơn, Bình Định: ven biển miền Trung, gió mạnh, bão tháng 9–11, đất cát. Nguồn hoa keo lá tràm, dừa, cây bụi ven biển.